Trần Văn Tài (HT BTS/GHPGHH/Nam California)
Kính thưa
Quý vị Lãnh đạo tinh thần các tôn giáo
Ông Hội Trưởng BTS/GH/PGHH/TƯ/HN
Quý vị Đại diện Dân Cử, Quý tổ Chức cộng đồng, quý Thân Hữu, và Truyền thông báo chí cùng toàn thể đồng đạo PGHH.
Trước hết chúng tôi xin chân thành cảm tạ sự hiện diện quý báu của quý vị trong Lễ Tưởng Niệm Ngày Đức Thầy Thọ Nạn tại Đốc Vàng vào ngày 25 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi, tức ngày 16 tháng 4 năm 1947. Đây là một trong 3 ngày lễ quan trọng nhất đối với tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đang sinh sống tại hải ngoại cũng như tại Việt Nam vì Phật Giáo Hòa Hảo là một tôn giáo nội sinh phát khởi từ lòng đất mẹ.
Ngược dòng lịch sử, trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt của Thế chiến thứ Hai sắp chấm dứt, (1945), Việt Nam đứng trước hai quan điểm :
- Một quan điểm cho rằng trong tình thế khẩn trương, phải dựa vào PHÁP để đối phó với Cộng Sản núp dưới chiêu bài liên hiệp để chống ngoại xâm.
- Một quan điểm khác cho rằng không thể dựa vào Pháp là THỰC DÂN xâm lược, là kẻ thù của đất nước
Thế kẹt lịch sử đó đã hành hạ, thúc đẩy những người chiến sĩ quốc gia phải ý thức trách nhiệm trước tiền đồ của tổ quốc, Đức Thầy đã phải hình thành một tổ chức kết hợp các người quốc gia yêu nước là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt Toàn Quốc, với quyết tâm kháng chiến độc lập.
Và Ngài cũng vì muốn tạo sự đoàn kết, giải tỏa thế kẹt giữa Thực Dân và Việt Minh Cộng Sản mong muốn toàn dân kháng chiến hơn là tư thù giữa Việt Minh Cộng sản và tôn giáo PGHH, nên Ngài nhận lời tham gia với Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ với chức vụ khiêm nhường là Ủy viên Đặc Biệt.
Trong khi đó Việt Minh Cộng sản đã gây ra nhiều vụ xô sát đẫm máu, nên Đức Thầy phải thân hành từ Miền Đông về đến Miền Tây ngõ hầu hóa giải những xung khắc trên. Thì thay vì hợp tác, họ lại lợi dụng lòng từ bi, đức vị tha của Đức Thầy để bày chuyện hội họp, âm mưu ám hại Ngài trong đêm 16 tháng 4, năm 1947 tức ngày 25 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi tại Đốc Vàng.
Với lòng bác ái của một vị Phật lâm phàm độ thế, luôn xót thương sanh chúng, nên khi biết gặp nạn khi đi hội họp tại Đốc Vàng để giàn xếp các vụ xung đột giữa Việt Minh và Phật Giáo Hòa Hảo. Sau khi xãy ra biến động, có tiếng sung nỗ, Đức Huỳnh Giáo chủ đã viết một lá thư để gởi về cho các tướng lãnh Hòa Hảo nhằm tránh sự giao tranh trả thù đẫm máu.
Lá thư như sau:
“Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyễn Giác Ngộ,
Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Bửu Vinh suýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra. Trong mấy anh em phòng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai chạy về báo cáo rằng tôi bị bắt hay là mưu sát, thì các ông đừng tin và đừng náo động, cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu. Hãy đóng quân y tại chỗ. Sáng ngày tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi về sau.
Phải triệt để tuân lịnh.
16-4-1947, 9 giờ đêm.
Ký tên: Huỳnh Phú Sổ
Theo tài liệu” Lịch sử Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc”, của cô cư sĩ NGUYỄN LONG THÀNH NAM, thì luật sư Mai Văn Dậu, một tín đồ của Phật Giáo Hòa Hảo có đem đối chiếu chữ ký và chữ viết thì nhận chính là của Đức Thầy và tín đồ Phật giáo Hòa Hảo luôn tin tưởng là không ai có thể ám hại Ngài được và luôn tin tưởng một ngày trở về của Đức Thầy để cứu độ chúng sanh,
Qua tài liệu lịch sử cũng như lời của các nhân chứng kể lại, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã biết trước âm mưu của Cộng sản định ám hại Ngài. Bằng chứng là hôm Ngài bước chơn xuống ghe để đi hội họp với Việt Minh, ngày 16-4-1947, Ngài đã tỏ ra áo não mà than Trời ba tiếng.
Khi ghe đến làng Tân Phú, trời đã nhá nhem tối. Ngài kêu hỏi một phòng vệ trong số 4 người theo hầu rằng: Như bây giờ thả anh tại đây, anh có biết đường về Phú Thành không? Người phòng vệ ấy trả lời biết. Thì quả nhiên, chính anh phòng vệ ấy tên là Phan văn Tỷ cũng được gọi là Mười Tỷ còn sống đã trở về báo tin trong lúc 3 người phòng vệ kia bị sát hại ngay khi mật lịnh truyền ra trong lúc hội họp.
Đức Thầy là một vị Phật xuống trần với sứ mạng cứu đời nên năm 1939 sau khi mới khai sáng nền đạo PGHH, Ngài đã biết cho biết trước Ngài sẽ vắng mặt một thời gian. Trong Sám giảng quyển 3 viết tại Hòa Hảo, Ngài đã từng tiết lộ: (475-476)
RÁN NGHE LỜI DẠY CỦA THẦY,
ĐỂ CHỪNG ĐẾN VIỆC KIẾM THẦY KHÓ RA.
Hoặc :
Trong Sấm giảng quyển Nhì: Kệ Dân của Người Khùng, viết năm 1939 khi mới khai sáng đạo, Ngài đã báo trước: (261-262)
TU KÍP KÍP NẾU KHÔNG QUÁ TRỄ,
CHỪNG ĐỐI ĐẦU KHÓ KIẾM ĐIÊN KHÙNG.
Ngoài ra, Ngài cũng có nói về sự trở về sau thời gian vắng mật trong Bài thi “DẶN DÒ BỔN ĐẠO , viết năm Canh Thìn 1940, Đức Thầy có dặn: (129-130)
ÍT LÂU TA CŨNG TRỞ VỀ,
KHUYÊN CÙNG BỔN ĐẠO CHỚ HỀ LÃNG XAO.
TRÌ LÒNG CHỚ CÓ NÚNG NAO,
TỪ ĐÂY NHƠN VẬT MÒN HAO LẦN LẦN.
Ngài cũng dặn trong bài Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi viết năm 1940 tại Hòa Hảo: (111-112)
TỪ NAY CỬA KHỔNG GÀI THEN,
CHỜ TA TRỞ LẠI THÌ ĐÈN HẾT LU.
Và
GIẢNG KINH ĐỌC TỤNG CHIỀU MAI
LÀM THEO LỜI CHỈ NGÀY RÀY GẶP TA.
Đức thầy cũng đã dặn dò tín đồ trong bài Từ Giã Làng Nhơn Nghĩa viết năm Canh Thìn (107-108)
CHỪNG NÀO THẦY LẠI GIA TRUNG,
THÌ TRONG BỔN ĐẠO BÓN TÙNG PHỦ CHE.
Kính thưa quý liệt vị và quý đồng đạo,
Với sứ mạng cứu đời, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã khai sáng nền đạo Phật Giáo Hòa Hảo khi Ngài còn quá trẻ, 19 tuổi , vào năm 1939 tại làng Hòa Hảo thuộc tỉnh An Giang, nay là Quận Phú Tân tỉnh An Giang, Miền Tây Nam nước Việt.
Ngài đã viết 6 quyển Sấm Giảng và Thi Văn Giáo Lý, và đi khắp nơi truyền đạo, khuyến tu, chữa bệnh cứu đời và Ngài đi vào chốn hiểm nguy để tìm cách cứu bao nhiêu mạng sống của tín đồ và Việt Minh. Đó là một tấm gương đạo đức và ái quốc hy sinh liều mình cứu độ nhân sinh cho tín đồ noi theo.
Sau biến cố trong đại ngày 16 tháng 4 năm 1947, Đức Thầy đã vắng mặt nhưng giáo lý của Ngài càng ngày càng được phổ biến rộng rãi và tín đồ càng gia tăng dù có gặp bao gian truân khó khăn, biết bao tín đồ đã hy sinh trong ngục tù sau 1975, nhưng người tín đồ vẫn luôn tin tưởng vào ngày trở về và sứ mạng thiêng liêng của Ngài.
Sự ẩn nhẫn và hy sinh gian khổ của Đức Thầy không thể nào tả xiết, quả thật chỉ có bậc Bồ Tát cứu đời mới có thể vượt qua. Đức Thầy đã từng nói trong bài “Sa Đéc” viết năm Canh Thìn 1940:
“Muốn lập Đạo có câu thành bại,
Sự truân chuyên của khách thiền môn.
Khắp sáu Châu nức tiếng người đồn,
Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh.”
Ngoài đức từ bi và sự dũng cảm, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã truyền đạt cho tín đồ một tình yêu nước nồng nàn của một công dân nước Việt.
Sau khi diễn thuyết tại Phụng Hiệp, Ngài đã đọc bài thơ “Yêu Nước” viết năm 1942 như sau :
Yêu nước bao đành trơ mắt ngó,
Thương đời chưa vội ẩn non cao.
Quyết đem tâm sự tâu cùng Phật.
Coi lịnh từ-bi dạy lẽ nào.
Trong bài Sứ Mạng của Đức Thầy viết tại Bạc-Liêu, ngày 18-5 năm Nhâm-Ngũ (1942) , Ngài cho biết :
“Sinh trong vòng đất Việt-Nam này, trải bao đời giúp nước vùa dân cũng đều mãi sinh-cư nơi đất Việt.” Và
“Những tiền kiếp dầu sống cũng là dân quan đất Việt, dầu thác, cũng qủy thần đất Việt chớ bao lìa.”
Kính thưa quý vị,
Hôm nay, chúng tôi xin cung kính vinh danh Đức Huỳnh Giáo Chủ, một vị lãnh đạo tôn giáo còn trẻ tuổi có tất cả BI TRÍ DŨNG, với lòng can đảm, đức từ bi và với tình thương nhân loại vô bờ đã quyết định đi hội họp với những người có tư tưởng đối lập nhằm mục đích tránh một cuộc đụng độ tương tàn có thể gây chết choc cho tín đồ và nhiều người khác.
Nhân lễ Tưởng niệm 78 năm ngày Đức Thầy Thọ nạn, chúng tôi, toàn thể tín đồ PGHH Nam California thành kính tri ân Đức Tôn sư kính yêu. Người đã đốt cho chúng tôi một Ngọn Đuốc Từ Bi, một con đường đạo với giáo lý Tứ Ân, để hướng đến Chân Thiện Mỹ, hướng đến con đường giải thoát khỏi chốn trầm luân bể khổ. Chúng tôi cũng mong mỏi và tin tưởng rằng, tín đồ PGHH trong nước rồi đây hằng năm cũng sẽ được cử hành ngày lễ Tưởng niệm này, nhằm tri ân Đức Giáo Chủ kính yêu.
Riêng đối với đồng đạo tại hải ngoại, chúng tôi kêu gọi sự thương yêu lẫn nhau, tạo sự sự đoàn kết và cùng nhau tu tập để cởi bỏ Tham Sân Si, cùng nhau nâng đỡ giới trẻ tiến lên trong việc hành đạo để làm sáng tỏ giáo lý mầu nhiệm của Đức Thầy và Phật Giáo Hòa Hảo sẽ được phát triển, trường tồn và phổ biến khắp nơi, đáp lại hoài bảo thiêng liêng của Đức Thầy khi Ngài bị người Pháp quản thúc trong nhà thương Chợ Quán năm Canh Thìn, 1940. Ngài đã tỏ bày như sau:
ƯỚC MƠ THẾ GIỚI LÂN HÒA HẢO,
NHÀ PHẬT CON TIÊN HÉ MIỆNG CƯỜI.
Sau cùng chúng tôi xin kính chúc quý quan khách và quý đồng đạo thân tâm thường lạc, sức khỏe dồi dào, tu hành tin tấn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật.
