LUẬT NHÂN QUẢ

27 Tháng Sáu 20179:49 CH(Xem: 14564)
LUẬT NHÂN QUẢ

Ba Lia cuoi

Nguyễn Văn Lía

 

Nói đến nhân quả, người tín đồ đạo Phật hiểu ngay đến luật trả vay, vay trả của thế trần. Vì vậy những ngôn ngữ được bàn bạc qua tâm tư trí não của họ, như: “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặt bão”, “ghét cái nào trời trao cái nấy”…Sách Minh Tâm Bửu Giám của Nho gia cũng dạy chúng ta: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo giữ lai trì” (lành dữ đến lúc đều có trả, chỉnh e sớm muộn mà thôi!).

          Vậy chúng ta thử tìm hiểu coi nhân quả là gì? Khi hơn một lần Đức Huỳnh Giáo Chủ đã khẳng định:

“Luật nhân quả thật là cao viễn,

 Suốt cổ kim chẳng lọt một ai?

Nhân quả:  Nhân, theo nghĩa một của nó là nguyên nhân; quả là kết quả. Hay nói bằng cách khác: nhân là hột giống, quả là trái bông. Nghĩa là chúng ta gieo rấm giống chi, tạo tác sự việc gì, thì kết quả nó trả lại cho ta thụ hưởng bằng giống ấy, sự việc đó. Chính Đức Thầy cũng bảo: “Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy”.

Vẫn biết luật nhân quả  rất  sâu kín nhiệm mầu, song sự kết quả, nghĩa là sự hình thành của nó có chậm mau. Sự chậm mau ấy có thể tóm lược làm ba phần:

I. Nhân quả một đời:

Khi mình tạo nhân lành dữ gì trong kiếp nầy, kết quả của nó trả lại cho ta trong kiếp hiện tiền, chớ không kéo dài đến kiếp tới. Đúng như câu:

“Đời xưa quả báo thì chầy,

  Đời nay quả báo một giây nhãn tiền”.

II. Nhân quả hai đời:

Mình tạo nhân lành dữ gì trong kiếp nầy, phải đợi kiếp sau mới được hưởng, hay chúng ta đã tạo những nhân ở kiếp trước hôm nay kết quả trả lại. Cổ nhân đã am tường qua vấn đề nầy, nên đã bảo:

“Bởi kiếp trước mở hồ bao bố thí,

  Nên kiếp này địa vị giàu sang.

 Kiếp nầy bỏn xẻn tham gian,,

Kiếp sau đói khó nghèo nàn khổ thay.

III. Nhân quả trong nhiều đời:

Nghĩa là mình tạo nhân lành dữ gì, phải đợi nhiều kiếp sau mới hưởng lấy, chớ không trả ngay ở kiếp hiện tại hoặc sự hưởng thọ lành dữ, nghèo khó hay giàu sang, thọ mạng sống lâu hay chết sớm…đều do sự “gieo rấm”, do nguyên nhân của nhiều kiếp trước.

Bởi vậy kiếp sống của con người; muốn biết rõ nguyên do của ta từ bao kiếp trước hãy xem sự hưởng thọ trong đời nầy. Còn muốn rõ sự việc những kiếp lai sinh, thì hãy xem lại sự tạo tác trong hiện sinh. Kinh “Nhân quả lục” có chép: “ Yếu tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị. Yếu tri hậu thế quả, kim sanh tác giả thị”. Âu cũng là chuẩn xác!.

Và nguyên do luật nhân quả có chậm mau là do nơi sự gieo nhân mạnh hay yếu. Hễ mạnh thì kết quả mau, nhược bằng yếu thì kết quả chậm, chớ không khi nào sai mất. Vì:

Quả sanh vì bởi có nhân

  Nếu nhân không có quả sanh bao giờ”(TS)

Kinh Phật cũng dạy: “Dã sử bá thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ”. Phỏng dịch:

 

       Dẫu trăm ngàn kiếp xa mờ

         Nghiệp kia nào mất chỉ chờ đấy thôi

               Nhân duyên quả báo đủ rồi

        Mình làm thọ hưởng đền bồi nhân xưa.(NVL)

Và Đức Thầy đã hằng khuyến tấn môn nhơn:

“Trồng cây lành vị quả thơm tho,

 Tuy không thấy mà sao chẳng mất.”

Trong giáo lý đạo Phật, sự chi phối của luật nhân quả còn có biệt nghiệpcộng nghiệp.

Biệt nghiệp: sự gây tạo của cá nhân; thì sự trả lại cũng chỉ mình ta thọ lấy, chớ không ai gánh lấy được. Cộng nghiệp: nhân quả liên quan đến nhiều người, khi đã cùng gieo nhân nay cùng chung hưởng quả (tốt, xấu).

Ông Thanh Sĩ có minh thị hiển bày:

“Tạo cộng nghiệp tức mang cộng quả

  Sự đồng tâm chớ khá xem thường

 Chỉ gật đầu cũng đủ tai ương

 Đâu đợi đứng chủ trương mới tội”.

Ngoài những điểm chính trình bày trên, còn có sự “nhồi quả” nữa. Về điểm nầy có thể nói là người tu phải gánh lấy nhiều hơn hết. Tại sao? Bởi lẽ người tu luôn luôn muốn thoát ly cảnh đời đau khổ, rời dứt đi sự trói buột ở trần gian. Cho nên bao quả bất lành từ lũy kiếp được giải quyết ngay ở kiếp hiện tại. Chẳng khác nào người đời thiếu nợ bạc tiền của kẻ kia, mà muốn dời đi nơi khác, phải trả cho xong. Vì vậy người tu hành nếu vướng phải trường hợp nầy chúng ta nên cố gắng nhận chịu tất cả, và coi đó như là một cơ thử thách để vun quén cội lành càng sum suê nảy nở thêm lên. Đức Thầy đã dạy:

“Ông nhồi quả cho người hành đạo,

  Lúc nguy nàn thối chí cùng chăng,

 Nếu bền lòng vị quả cao thăng,

Chẳng chặt dạ bỏ lăn Phật Thánh”.

Đã hiểu qua luật nhân quả rất khéo mầu, ngay trong kiếp hiện tại chúng ta cần phải phấn đấu tạo cho kỳ được những nhân lành dù phải gian lao trở ngại, dầu phải hi sinh cũng cố làm việc lành cho đến khi nào được tròn đủ. Chừng đó chúng ta tin rằng những kiếp tới không có cái ác quả nào trả lại cho chúng ta. Vì sao? Vì chúng ta không tạo nghiệp ác, cố nhiên không có quả khổ trả lại và ta nên hằng mặc niệm khắc ghi qua lời phán dạy của Đức Thầy : “Luôn luôn, lúc nào cũng phải nhớ câu Nhơn quả của Phật dạy, nếu Nhơn toàn thiện thì Quả cũng sẽ do đó được toàn thiện vậy”.

Qua phần trình bày cô đọng và giản lược trên mong rằng chúng ta cố gắng “tạo nhân lành để hưởng quả ngọt” về sau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Ba 20151:37 CH(Xem: 20932)
Giáo lý ấy chỉ như ánh Trăng khi tỏ khi mờ, khi hành giả chưa hiểu hay chưa nhận rõ về sự “nhiệm sâu” trong giáo lý đạo PGHH. Và ánh Trăng ấy sẽ là nguồn ánh sáng vô tận dành cho những ai thấu hiểu, ngộ được sự “huyền bí” trong giáo lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ.
02 Tháng Mười Hai 201412:00 SA(Xem: 12639)
Người tín đồ PGHH học Giáo lý là để nắm cho được căn bản Phật pháp nói chung và để hiểu lời Đức Thầy chỉ dạy trong Giáo lý PGHH, được cô đọng trong quyển Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Ngài.
30 Tháng Mười Một 201412:00 SA(Xem: 8320)
Khi giải thích về “đức Xả” Đức Thầy chỉ rõ: Xả là chẳng chấp một pháp nào trong thế gian, sẵn lòng lìa xa các nghiệp tiền trần, tha thứ hết thảy những ai tối tăm lầm lỗi, chẳng còn vướng víu chi với cuộc lợi danh, tài sắc, nhìn cõi đời chẳng bao giờ sanh lòng luyến ái.”
05 Tháng Mười 201412:00 SA(Xem: 9316)
Liên hồng cảm kích vĩ long tuyền, Đồng Thạnh hàng kỳ tác thiện duyên. Kiển sám truyền danh lưu hậu thế, Nam Việt trung thần đệ nhứt Tiên.
23 Tháng Chín 201412:00 SA(Xem: 9627)
chúng tôi xin trích ra một số bài Thi Văn trong quyển “TỪ ĐIỂN ĐẶC DỤNG” của đồng Đạo Nguyễn Văn Chơn với những bài THI HÁN do Đức Huỳnh Giáo Chủ sáng tác và đáp họa với những bậc túc nho
23 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 10565)
Pháp là phương tiện chở đưa người tu đi tìm cứu cánh Giải thoát. Như người từ bến mê nhờ PHÁP đưa đến bờ Giác. Đức Thầy dạy : Chúng sanh mê nên đem Pháp thuyết, Giải thóat rồi Pháp bất khả dùng.
23 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 13624)
Cuối năm Kỷ Mão (1939), chỉ trong vỏng vòng ba ngày, Đức Huỳnh Giáo-Chủ đã làm 4 bài thơ vịnh cảnh như sau: Thi Xuân (28 tháng Chạp), Cám Cảnh Dân Nghèo (28 tháng Chạp), Hai mươi Chín Tháng Chạp (29 tháng Chạp), và Đêm Ba Mươi (30 tháng Chạp).
06 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 15512)
Tam Bành không thực tướng và cả Lục Tặc cũng không chuẩn xác và chúng đã thúc dục nhau khiến chúng sanh tạo nên vọng nghiệp để phải lặn ngụp mãi trong luân hồi lục đạo. Nhưng may mắn thay, cách đây 2621 năm Đức Phật đã ra đời và mang giáo lý vô thượng để chửa trị Tam Bành và Lục Tặc của chúng sanh
06 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 12666)
Trong một Phật Giáo Hòa Hảo, Đức Thầy cùng dạy phương pháp Niệm Phật, nhưng do căn cơ mà mỗi người xác định cho mình một phương pháp hành.
18 Tháng Ba 201312:00 SA(Xem: 18629)
Nhẫn nghĩa là gì? Nhẫn là nhường, nhịn, dằn lòng xuống (nhẫn nhịn), cố-gắng chịu đựng (nhẫn-nại), bền chí, không nóng-nảy, nãn lòng (kiên-nhẫn), cam chịu nhục để đạt mục-đích nào đó (nhẫn-nhục),...
128,498